Dàn ý phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Chiều tối của Hồ Chí Minh

Tập Nhật kí trong tù được sáng tác trong quãng thời gian đặc biệt nhạy cảm đối với cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đó là thời điểm người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam và đày ải đi khắp các nhà lao. Vì vậy, trong tập nhật ký, có nhiều bài nói về chuyện đi đường, cảnh chuyển lao, khi sáng sớm, lúc chiều tối, khi đi thuyền, khi đi bộ... trong bất cứ hoàn cảnh nào thì bài thơ giải tù cũng làm ngời lên vẻ đẹp thơ Bác và vẻ đẹp tâm hồn Bác. Bài thơ Chiều tối thuộc trong số những bài thơ nói trên nhưng có một vẻ đẹp riêng. Đó là tình yêu thiên nhiên, tình yêu cuộc sống, lạc quan và nhân hậu. Bài thơ cũng thể hiện vẻ đẹp phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh mà nổi bật là sự kết hợp giữa cổ điển và hiện đại.

Dàn ý phân tích nét cổ điển và hiện đại trong Chiều tối của Hồ Chí Minh

Dàn ý 1

I. Mở bài:

- Bài "Chiều tối" trích trong tập thơ "Nhật ký trong tù" là một bài thơ không chỉ mang đến thành công về mặt nội dung mà còn cho thấy tài năng của tác giả về nghệ thuật trong việc sử dụng kết hợp yếu tố cổ điển và hiện đại.

II. Thân bài:

- Yếu tố cổ điển:

+ Thể hiện qua hình ảnh thơ quen thuộc: Cánh chim, chòm mây, con người.

+ Thể hiện qua bút pháp tả cảnh ngụ tình: bộc lộ tâm trạng quá thiên nhiên.

+ Thể hiện qua thời gian nghệ thuật.

+ Thể hiện qua bút pháp điểm xuyết- nhãn tự "hồng".

- Yếu tố hiện đại:

+ Thể hiện qua tâm trạng nhân vật trữ tình: buồn mà không bị lụy, hành động và cố gắng.

+ Hình ảnh hài hoà giữa thiên nhiên và người lao động, con người nổi bật là trung tâm tác phẩm.

+ Tinh thần lạc quan trong gian khó của Bác Hồ.

+ Tứ thơ vận động theo sự phát triển.

III. Kết bài:

- Khái quát về giá trị của bài thơ

Dàn ý 2

Giới thiệu sơ lược về tác giả, nêu cảm nhận chung về tác phẩm.

Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại đồng thời là nhà thơ lớn của dân tộc. Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù) là tác phẩm tiêu biểu, được Bác viết trong thời gian bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt tại Quảng Tây (Trung Quốc), từ mùa thu năm 1942 đến mùa thu 1943.

Mộ (Chiều tối) là bài thơ có giá trị nội dung và nghệ thuật độc đáo. Điều khác lạ là bài thơ được viết trong hoàn cảnh người bị giải đi trên đường, với gông cùm xiềng xích, nhưng không phải là một lời than vãn xót xa. Trái lại, đó là một nét hoan ca về cuộc sống, về con người, biểu hiện tâm hồn hết sức đẹp đẽ, nhân cách lớn lao của Hồ Chí Minh.

Hai câu đầu

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không

Hai câu đầu vẽ nên một bức tranh nên thơ, yên bình của cuộc sống, chim bay về rừng tìm chốn trú ngụ, đám mây trôi lững lờ trên bầu trời chiều.. chỉ vài nét chấm phá, những bức họa (trong bài thơ có họa) của thơ xưa. Song, phong vị cổ thi ấy do gần gũi về bút pháp. Còn thực ra, đây vẫn là buổi chiều nay, với cảnh thật và người thật (người tù - nhà thơ) đang tận mắt nhìn ngắm.

Bức tranh phong cảnh kia tuy đẹp và nên thơ nhưng vẫn có nét buồn. Quyện nghĩa là mỏi, chán, mỏi mệt. Tầm là tìm kiếm. Cánh chim sau ngày rong ruổi, trong cái giờ khắc của ngày tàn, mỏi mệt, phải trở về rừng đặng tìm kiếm chỗ trú. Cô là lẻ loi, một mình. Mạn mạn là dài và rộng, không là trên bầu trời dài, rộng mênh mông. Bản thân bầu trời vẫn dài rộng như là triệu năm qua, nhưng đám mây đơn lẻ kia đã khiến nó càng trở nên mênh mang hơn. Hai câu thơ, theo đúng nghĩa đen cũng chỉ ra một cảnh buồn. Với người bình thường, thậm chí đang vui, trước cảnh ấy, lòng hẳn không sao tránh một cảm xúc man mác, bâng khuâng. Câu thơ khiến người ta liên tưởng đến một buổi chiều khác, trong thơ cổ:

Trời chiều bảng lảng bóng hoàng hôn,

Tiếng ốc xa đưa vẳng trống dồn

Gác mái ngư ông về viễn phố

Gõ sừng mục tử lại cô thôn

Ngàn mai gió cuốn chim bay mỏi

Dặm liễu sương sa khách bước dồn

Kẻ chốn Chương Đài người lữ thứ,

Lấy ai mà kể nỗi hàn ôn

(Cảnh chiều hôm - Bà Huyện Thanh Quan)

Buổi chiều xưa không vắng lặng, nhưng lòng người đã tím ngát nỗi buồn. Còn cảnh ở đây, vốn là đơn chiếc. Cảnh ấy nói hộ lòng người, hẳn đang buồn. Đúng thôi, ngay đến cánh chim kia, khi chiều tắt đã vội trở về. Thế mà, giờ này, người tù mắt mờ, chân yếu, lại bị gông cùm, vẫn đang lê bước trên đường dài. Người đó không than vãn, do nhân cách vĩ đại, song ai không cảm được nỗi đau rất thật từ cảnh tình ấy?

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng

Hai câu kết chuyển hướng vận động của hình tượng thơ. Ở trên, cảnh vật mênh mông, vắng lặng, ánh nắng ngày đang dần tắt, nhường chỗ cho bóng đêm ập xuống. Còn ở đây, dù không tả nhưng ai cũng biết, đất trời đã vào đêm, bóng tối ken dày muôn nơi. Vậy, điều gì khiến người ta cảm nhận được từng bước đi của thời gian, cảm nhận thấy được ánh sáng và bóng tối? Đó là cánh chim đơn lẻ bay về chốn cũ. Đặc biệt, đó là ánh rực hồng của lò than nơi xóm núi. Đây cũng là lối chấm phá, lấy ánh sáng tả bóng tối.

Nhưng sự chuyển hướng đích thực của hình tượng thơ không chỉ có vậy. Nếu cảnh ở trên mang nét buồn của sự lẻ loi, hoang vắng, thì cảnh ở đây, dù là đêm tôi nhưng ấm áp, giàu sức sống. Đôi mắt của người nghệ sĩ ở cảnh trước khi phóng nhìn ra xa và lên cao, càng nhìn càng mất hút và trống trải. Khi đôi mắt ấy nhìn gần, đã bắt gặp hình ảnh không ngờ:

Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc

Vóc dáng người thôn nữ cùng với công việc lao động dường như là thường ngày ấy đã xua đi sự cô quạnh gi��a miền sơn cước. Và đến lúc công việc đã xong, thì ánh sáng tràn ngập.

Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng.

Trong bóng đêm, ánh sáng ấy càng có sức lan tỏa. Lòng người từng man mác buồn đã ấm lại cùng với ánh lửa kia. Đến đây thì sự vận động của hình tượng thơ được trọn vẹn.

Mộ là bài thơ rất tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh.

Khi sử dụng thể thơ luật Đường, tác giả đã vận dụng khá nhuần nhuyễn bút pháp chấm phá để tả cảnh, lấy động tả tĩnh, đặc biệt là lấy cảnh tả tình. Trong bài thơ, không có từ hay chi tiết nói về chủ thể trữ tình, nhưng người đọc vẫn hiện ra đôi mắt, tấm lòng của con người ấy. Tuy nhiên, dù mang phong vị cổ điển, đây vẫn là bài thơ hiện đại. Chất hiện đại bộc lộ ở sự vận động hình tượng thơ, nhất là ở tấm lòng và tư tưởng của thi nhân. Dù bị gông cùm, xiềng xích, con người đó vẫn hết sức ung dung tự tại, luôn quên mình để nhìn ngắm cuộc sống và rung động với từng biểu hiện, dù chỉ nhỏ nhoi, tinh tế.

Dàn ý 3

1. Hai câu thơ đầu là bức tranh thiên nhiên núi rừng lúc chiều tà

- Cánh chim mỏi mệt (“quyện điểu”) đang đập cánh bay đi tìm chốn ngủ. Cùng với cánh chim này là chòm mây lẻ loi, lững lờ, chậm chạp trôi (“cô vân”, “mạn mạn”). Cả cánh chim và chòm mây đều mang cảm giác mệt mỏi, cô độc

- Người tù thi sĩ có sự tương đồng, hoà hợp và cảm thông giữa tâm hồn người tù với những hình ảnh của thiên nhiên. Hẳn là người tù cũng đang mỏi mệt và khao khát một chốn dừng chân.

- Thời gian chiều tà, không gian rừng núi, lại trong hoàn cảnh đang bị giải trên đường chuyển lao, người tù không tránh khỏi cảm giác bùi ngùi, cô đơn, chạnh lòng.

2. Hai câu cuối là khung cảnh sinh hoạt của con người

Hình ảnh xóm núi tiếp đó là hình ảnh cô gái xay ngô, và ngay sau đó là ảnh bếp lửa hồng. Sự xuất hiện theo trình tự này cho ta hình dung bước chân của người tù đang tiến đến gần, cái nhìn ngày càng rõ rệt, cụ thể trong từng chi tiết. Vậy là từ không gian trên cao ở hai câu trên, xuống không gian trần thế, không gian sinh hoạt của con người.

- Bức tranh về sự sống sinh hoạt của con người được đặc tả: Lúc này thời đã tối dần. Vòng quay của cối xay được thể hiện trong sự lặp lại “ma bao túc” trên và “bao túc ma hoàn” trong câu tiếp theo. Cuối cùng là lò than bỗng rực hồng lên khi trời tối hẳn.

Chữ “hồng” làm bừng sáng cảnh thơ. Nó mang nhiều ý nghĩa. Nó biểu thị thời điểm trời tối hẳn. Nó cũng gợi cái ấm áp, tươi vui, niềm tin...

Có thể thấy có sự vận động của hình tượng thơ: Từ bóng tối vươn ra ánh , từ sự tàn lụi đến sự sống, từ cô đơn tới xum họp ấm áp; từ nỗi buồn hướng tới niềm vui; trong đó con người thành trung tâm điểm. Đó chính là sự kết hợp hài hoà giữa bút pháp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Chiều tối nói riêng và Nhật kí trong tù nói chung.

3. Người tù chiến sĩ và thi sĩ

Tâm lòng hoà hợp, cảm thông, nâng niu của Bác đối với thiên nhiên tạo vật, trước cuộc sống bình thường, nghèo khổ nhưng bình yên của người lao động. Trong thẳm sâu tâm hồn người tù ấy không giấu nổi khao khát về một chốn dừng chân, về một tổ ấm gia đình. Trái tim của nhà cách mạng vẫn đập theo nhịp của con người bình thường, với những khao khát bình thường của con người. Chính vì thế ta càng thấy thương Bác hơn.

Chế độ lao tù tàn bạo Tưởng Giới Thạch không thể làm cằn khô tâm hồn dào dạt chất nhân văn của Bác. Ngay cả những lúc đang bị đoạ đày, Bác vẫn cảm thông với tạo vật và con người, rung cảm trước hiện thực. Đó cũng chính là biểu hiện của một chất thép trong tâm hồn nghệ sĩ của Bác.