Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt – Ngữ Văn Lớp 9

Có lẽ khi nhắc về quá khứ, nhất là những thời điểm đẹp đẽ, người ta vẫn thường kể nhiều hơn. Với “Bếp lửa” nhà thơ Bằng Việt thực đã dắt dẫn người đọc vào sâu trong mạch kể, mạch hồi tưởng của ông. Hồi ức đẹp một đi không trở lại của tuổi thơ được tái hiện không phải bằng một trí nhớ lan man, chắp vá. Trái lại, ở sâu trong tiềm thức của tác giả, hình ảnh “Bếp lửa” và “người bà” lúc nào cũng tỏ sáng lạ kì - trở thành một điểm đi về trong cõi nhớ. Dòng suy tưởng và hoài niệm của người cháu xa quê nhà có lẽ đều được khởi nguồn từ những hình ảnh đầy giản dị mà thân thương, ấm áp vô cùng. Trong bài viết sau, cùng Wikihoidap.org phân tích bài thơ bếp lửa để cùng cảm nhận về tình bà cháu cũng như xúc cảm của nhà thơ.

Phân tích bài thơ Bếp lửa của Bằng Việt

  • Khái quát về tác giả, tác phẩm:
  • Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
  • Thơ ông giàu cảm xúc tinh tế, giọng điệu tâm tình, mượt mà sâu lắng. Thơ Bằng Việt thường khai thác những kỉ niệm thời thơ ấu và gợi những ước mơ tuổi trẻ.
  • Trong nền thơ hiện đại, Bếp lửa được đánh giá là một trong không nhiều những bài thơ viết về tình bà cháu hay nhất.
  • Hình ảnh trong bài thơ:

Trong bài thơ có hai hình ảnh nổi bật, gắn bó mật thiết với nhau, vừa tách bạch, vừa nhòe lẫn trong nhau,tỏa sáng bên nhau. Đó là hình ảnh người bà và bếp lửa. Vì sao trong dòng hồi tưởng và suy nghĩ của nhà thơ, hai hình ảnh ấy lại luôn gắn bó, song hành, đồng hiện? Vì bà luôn hiện diện cùng bếp lửa. Bên bếp lửa là bóng hình bà. Bà nhóm bếp lửa mỗi sáng, mỗi chiều và suốt cả cuộc đời trong từng cảnh ngộ: từ những ngày khó khăn gian khổ đến lúc bình yên. Bếp lửa còn là biểu tượng giàu ý nghĩa: nó là biểu hiện cụ thể  và đầy gợi cảm về sự tảo tần, chăm sóc, và yêu thương của người bà dành cho cháu con.Bếp lửa là tình bà ấm nồng. Bếp lửa là tay bà chăm chút. Bếp lửa gắn với bao vất vả, cực nhọc đời bà. Ngày ngày bà nhóm bếp lửa là nhóm lên sự sống niềm vui, tình yêu thương, niềm tin, và hi vọng cho cháu con, cho mọi người.

  • Ý nghĩa triết lí của bài thơ:

Từ những suy ngẫm của người cháu, bài thơ biểu hiện một triết lí sâu sắc: Những gì thân thiết nhất của tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng bước con người trong suốt hành trình dài rộng của cuộc đời. Tình yêu đất nước bắt nguồn từ lòng yêu quý ông bà, cha mẹ, từ những gì gần gũi và bình dị nhất.

  • Nghệ thuật đặc sắc của bài thơ:

-Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa biểu cảm và miêu tả, tự sự và bình luận.

- Thể thơ tám chữ kết hợp với 7 chữ,9 chữ phù hợp với việc diễn tả dòng cảm xúc và suy ngẫm về bà.

- Giọng điệu tâm tình, thiết tha, tự nhiên, chân thành.

- Sáng tạo hình ảnh bếp lửa – hình ảnh vừa thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng.

Dàn bài

I. Mở bài:

- Bằng Việt thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ của dân tộc ta. Thơ ông trong trẻo, mượt mà và tràn đầy cảm xúc, thường khai thác những kỉ

niệm thời thơ ấu và gợi những ước mơ của tuổi trẻ. “Bếp lửa” là bài thơ in đậm dấu ấn phong cách nghệ thuật độc đáo ấy. Ra đời năm 1963, khi tác giả đang là sinh viên học tập ở nước ngoài, thi phẩm là dòng kỉ niệm xúc động về người bà và tình bà cháu, thể hiện lòng kính yêu trân trọng, biết ơn của người cháu đối với bà, cũng là đối với gia đình, quê hương, đất nước.

II. Thân bài:

 1.Khái quát ( Dẫn dắt vào bài):

- Là một trong những sáng tác đầu tay của Bằng Việt, “Bếp lửa” được đánh giá là một bài thơ hay về tình bà cháu. Tình cảm ấy thể hiện qua dòng hồi tưởng của người cháu về những năm tháng tuổi thơ với biết bao kỉ niệm. Mỗi kỉ niệm lại được bao bọc trong một nỗi nhớ thương vừa dâng trào, vừa sâu lắng.

 2. Phân tích, cảm nhận:

- Mở đầu bài thơ là hình ảnh bếp lửa lung linh, chập chờn:

Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

Một bếp lửa ấp iu nồng đượm

Cháu thương bà biết mấy nắng mưa.

Ba tiếng “một bếp lửa” được nhắc lại hai lần, trở thành điệp khúc da diết ngay từ những dòng thơ đầu tiên. “Bếp lửa chờn vờn sương sớm” là hình ảnh quen thuộc đối với mỗi gia đình Việt Nam trước đây. Bếp lửa thật ấm áp giữa cái lạnh chờn vờn “sương sớm”,thật thân thương với bao tình cảm “ấp iu nồng đượm”.Từ láy“chờn vờn” rất thực như gợi nhớ, gợi thương đến dáng hình bập bùng của ngọn lửa, mờ ảo trong làn sương buổi sớm. “Ấp iu” gợi bàn tay kiên nhẫn, khéo léo và tấm lòng chi chút của người nhóm bếp. Hình ảnh bếp lửa hiện lên huyền ảo, hình ảnh người bà hiện ra tảo tần – bà đã chịu đựng bao“nắng mưa” để nuôi cháu thành người. Nhớ về bà, cảm xúc của cháu được gọi thành tên: “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa”.Vậy nên, trong tâm tưởng của người cháu nơi xa, sự xuất hiện của hình ảnh bếp lửa đã khơi gợi mạch nguồn cảm xúc để cháu nhớ về bà, nhớ về tình bà cháu. Bếp lửa gợi dậy cả một ký ức của tuổi ấu thơ – như một thước phim quay chậm tất cả đã ùa về:

Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi

Bố đi đánh xe khô rạc ngựa gầy

Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay.

Mùi khói cay nhèm của bếp rơm, bếp rạ đã đi vào kí ức của Bằng Việt từ những ngày còn thơ bé. Đó cũng là một tuổi thơ cay cực gắn liền với gian đoạn đau thương, khủng khiếp. Đau thương bởi bóng đen ghê rợn của nạn đói năm 1945. Trong làn khói sương của kỉ niệm, nhà thơ nhớ lại những kí ức bi thương nhất. Đó là cái “đói mòn đói mỏi”, hình

ảnh “khô rạc ngựa gầy” của hơn hai triệu người dân ở làng quê Việt Nam, là dáng hình của người cha trong lao động vất vả. Song, cũng chính trong khoảng thời gian ấy, bếp lửa vẫn cháy sáng, vẫn ấm nóng nồng đượm bởi tình bà. Cảm xúc hiện tại, kỉ niệm năm xưa hòa lẫn “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay”.

Đó còn là kỉ niệm về người bà lụi cụi, chắt chiu, nhóm lên ngọn lửa ấm ấp để nuôi dưỡng, bao bọc, chở che cho đứa cháu:

Tám năm ròng cháu cùng bà nhóm lửa

Tu hú kêu trên những cánh đồng xa

Tu hú kêu bà con nhớ không bà?

Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế

Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!

Mẹ cùng cha công tác bận không về

Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe

Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học

Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà

Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

Tám năm sống cùng bà là tám năm cháu nhận được sự yêu thương, che chở, dưỡng nuôi tâm hồn từ tấm lòng bà – “bà bảo cháu nghe, bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”. Cảm ơn cái công ơn ấy, người cháu càng thương bà: “Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc”. Bà và bếp lửa là chỗ dựa tình thần, là sự chăm chú, đùm bọc dành cho cháu. Bếp lửa của quê hương, bếp lửa của tình bà lại gợi thêm một kỉ niệm của tuổi thơ – kỉ niệm gắn với tiếng chim tu hú trên đồng quê mỗi độ hè về. Tiếng chim như giục giã, như k hắc khoải một điều gì da diết khiến lòng người trỗi dậy những hoài niệm, nhớ mong. Đưa âm thanh tiếng chim tuhú vào dòng hồi tưởng là một sáng tạo độc đáo của nhà thơ Bằng Việt

– nó khiến cho không gian kỉ niệm như có chiều sâu, và nỗi nhớ thương bà của cháu càng trở nên thăm thẳm, vời vợi. Tiếng chim tu hú đã trở thành một mảnh tâm hồn tuổi thơ cháu. Có thể nói, ngời sáng từ những dòng thơ là hình ảnh người bà tần tảo,giàu tình yêu thương. Bà là cha, là mẹ của đứa cháu trong những năm tháng gian khổ.

Đọng lại trong kỉ niệm của người cháu là:

Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi

Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi

Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh

Đoạn thơ có sự kết hợp giữa tự sự và miêu tả, đã tái hiện một cách chân thực cuộc sống đầy những mất mát, đau thương của dân tộc ta những năm chống Pháp. Và cũng thấm thía tình làng nghĩa xóm đoàn kết, bao bọc lúc hoạn nạn, khó khăn. “Mẹ cùng cha công tác bận không về”, cháu sống trong sự cưu mang, dạy bảo của bà, sớm có ý thức tự lập, sớm phải lo toan. Điều khiến cháu xúc động nhất là một mình bà già nua, nhỏ bé đã chống chọi để trải qua những năm tháng gian nan, đau khổ mà không hề kêu ca, phàn nàn. Bà mạnh mẽ, kiên cường trong hoàn cảnh chiến tranh đạn lửa. Đặc biệt là lời dặn cháu của bà đã làm ngời sáng vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam giàu lòng vị tha, giàu đức hi sinh:

Mày có viết thư chớ kể này kể nọ

Cứ bảo nhà vẫn được bình yên

Vậy là bà đã gồng mình gánh vác mọi lo toan để các con yên tâm công tác. Bà không chỉ là chỗ dựa cho đứa cháu thơ, là điểm tựa cho các con đang chiến đấu mà còn là hậu phương vững chắc cho cả tiền tuyến, góp phần không nhỏ vào cuộc kháng chiến chung của dân tộc. Bà thật là giàu lòng yêu thương.Chan chứa trong từng lời thơ, ta cảm nhận một lòng biết ơn, niềm tự hào của đứa cháu đã trưởng thành khi nghĩ về người bà thân yêu.

Từ những hồi tưởng về kỉ niệm tuổi thơ sống bên bà, người cháu đã suy ngẫm về bà, về cuộc đời bà:

Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm

Nhóm niềm yêu thương khoai sắn ngọt bùi

Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui

Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ

Nếu từ đầu bài thơ, hình ảnh bà và bếp lửa song hành thì đến đây hoà vào làm một, nhòe lẫn, tỏa sáng bên nhau. Những từ láy gợi cảm “lận đận, nắng mưa” kết hợp  với cụm từ chỉ thời gian “mấy chục năm rồi” và các phó từ “tận, vẫn” gợi tả một cách sinh động cuộc đời gian nan, vất vả và sự tần tảo, đức hi sinh, chịu thương,chịu khó của bà. Từ

“nhóm” được nhắc lại nhiều lần với cả nghĩa gốc, nghĩa chuyển tạo  cho đoạn thơ có giọng điệu thiết tha, sâu lắng. Bà nhóm bếp lửa mỗi sớm mai là nhen lên tình yêu thương, niềm vui sưởi ấm, sự san sẻ tình làng nghĩa xóm, những tâm tình, ước vọng của tuổi thơ.Như vậy, có tới mười lần tác giả nhắc tới bếp lửa và hiện diện cùng hình ảnh ấy là người bà – người phụ nữ Việt Nam muôn thưở giàu đức hi sinh. Bếp lửa là tình bà ấm sáng, bếp lửa là bàn tay bà chăm chút, bếp lửa gắn với khó khăn,gian khổ đời bà. Chính vì thế, nhà  thơ đã cảm nhận được sự kì diệu thiêng liêng từ bếp  lửa bình dị và quen thuộc: “Ôi, kì lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”Bằng Việt đã phát hiện bếp lửa được bà nhen lên không chỉ bằng nhiên liệu củi rơm mà còn được nhen lên trong ngọn lửa lòng bà, ngọn lửa của sự sống, tình yêu thương, niềm tin bất diệt. Bởi vậy, từ hình ảnh bếp lửa, bài thơ gợi đến hình ảnh ngọn lửa có ý nghĩa trừu tượng và khái quát:

Rồi sớm rồi chiều lại bếp lửa bà nhen

Một ngọn lửa lòng bà luôn ủ sẵn

Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dằng.

Tóm lại, bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa  mà còn là  người truyền lửa – truyền cho cháu niềm tin, tình yêu thương để cháu vững vàng trong hành trình dài rộng của cuộc đời.Với tất cả những ý nghĩa trên, hình ảnh người bà và bếp lửa đã trở thành điểm tựa và nỗi nhớ khi cháu đi xa:

Giờ cháu đã đi xa, có ngọn khói trăm tàu,

Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,

Nhưng vẫn chẳng bao giờ quên nhắc nhở:

- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?

Điệp từ “trăm” mở ra một thế giới rộng lớn với bao điều mới mẻ. Tuổi thơ đã lùi xa, đứa cháu nhỏ năm xưa giờ đã lớn khôn, đã được chắp cánh bay xa đến những chân trời cao rộng có “ khói trăm tàu”,”lửa trăm nhà”,”niềm vui trăm ngả” nhưng vẫn không quên bếp lửa của bà, không nguôi nhớ thương bà, nên vẫn“không quên nhắc nhở”: “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa”.Nỗi nhớ bà trở thành nỗi nhớ thường trực,hình ảnh bà trở thành hình ảnh thiêng liêng trong tâm hồn, làm ấm lòng, nâng bước người cháu trên suốt chặng đường dài rộng của cuộc đời. Hình ảnh bà cũng chính là hình ảnh quê hương đất nước một thời gian khó, đạn lửa.

 3. Ý kiến đáng giá, bình luận:

- Có thể nói rằng qua bài thơ, bằng việc sáng tạo nhiều hình ảnh mang ý nghĩa biểu tượng, đặc biệt là hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa; thể thơ tám chữ phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm; Bằng Việt đã để lại trong người đọc chúng ta tình bà cháu vô cùng cao đẹp. Tình cảm ấy là sự khởi đầu của tình yêu thương con người, tình yêu đất nước. Ngọn lửa của tình bà theo suốt những năm tháng cuộc đời nhà thơ, nuôi dưỡng, ấp ủ, chở che, mang đến cho cháu nghị lực.Ngọn lửa ấy sưởi ấm tấm lòng nhà thơ cũng như mỗi người đọc chúng ta.

 III. Kết bài:

  • Tình bà cháu là tình cảm cao đẹp được Bằng Việt thể hiện rất sâu sắc trong bài thơ “Bếp lửa”. Bếp lửa – tình bà, tấm lòng yêu thương của bà trong mỗi chúng ta là những gì thiêng liêng nhất. Nó nhắc nhở ta biết sống, biết yêu thương, xứng đáng với tầm lòng bà.