Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tùy bút của Nguyễn Tuân

Nguyễn Tuân là một nhà tuỳ bút lớn, sự nghiệp sáng tác của ông phong phú và đạt được sự cân bằng giữa hai thời kì lịch sử trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945. Qua cái mốc ấy, tư tưởng và phong cách của ông tất nhiên có những biến đổi nhất định. Nhưng dù biến đổi thế nào, vẫn trên một căn bản thống nhất của một cái tôi rất Nguyễn Tuân : tài hoa, uyên bác, thích cảm giác mạnh, suốt đời say mê đi tìm và diễn tả cái đẹp. Người lái đò Sông Đà rút trong tập tuỳ bút Sông Đà - một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của Nguyễn Tuân sau Cách mạng tháng Tám. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, tuỳ bút Nguyễn Tuân ngày càng giàu thêm chất kí. Nghĩa là tư liệu rất phong phú, bề bộn, nhất là tư liệu về địa lí, lịch sử, dân tộc học. Nhưng dưới ngòi bút Nguyễn Tuân, những tư liệu ấy trở thành hình tượng sống động, thành những sinh thể, những nhân vật có linh hồn. Vì vậy bài tuỳ bút không chỉ có một nhân vật mà hai nhân vật : người lái đò và con sông Đà.

Phân tích hình tượng người lái đò sông Đà trong tùy bút của Nguyễn Tuân

  1. Mở bài:

Nguyễn Tuân là cây bút tài hoa, uyên bác, cả đời say mê tìm kiếm vẻ đẹp của cuộc sống. Ông có sở trường về thể loại tuỳ bút. Một trong những sáng tác tiêu biểu của ông là tuỳ bút “ Người lái đò sông Đà”. Tác phẩm đã khắc hoạ vẻ đẹp đa dạng vừa hung bạo vừa trữ tình của con sông Đà và ca ngợi người lái đò giản dị mà kì vĩ trên dòng sông.

     II. Thân bài:

  1. Giới thiệu chung  

Tuỳ bút “Người lái đò sông Đà” dược in trong tập tuỳ bút “Sông Đà” (1960), gồm 15 bài tuỳ bút và một bài thơ ở dạng phác thảo. Tác phẩm được viết trong thời kì xây dựng CNXH ở miền Bắc. Đó là kết quả của chuyến đi thực tế của nhà văn đến Tây Bắc trong kháng chiến chống Pháp,đặc biệt là chuyến đi thực tế năm 1958. Nguyễn Tuân đến với nhiều vùng đất khác nhau, sống với bộ đội, công nhân và đồng bào các dân tộc. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới ở vùng cao đã đem đến cho nhà văn nguồn cảm hứng sáng tạo.

Ngoài phong cảnh Tây Bắc uy nghiêm, hùng vỹ và tuyệt vời thơ mộng, NT còn phát hiện những điểm quý báu trong tâm hồn con người mà ông gọi là “thứ vàng mười đã được thử lửa, là chất vàng mười của tâm hồn Tây Bắc.”

Qua “Người lái đò sông Đà”, Nguyễn Tuân với lòng tự hào của mình đã khắc hoạ những nét thơ mộng, hùng vỹ nhưng khắc nghiệt của thiên nhiên đất nước qua hình ảnh con sông Đà hung bạo và trữ tình. Đồng thơi, nhà văn cũng phát hiện và ca ngợi chất nghệ sĩ, sự tài ba trí dũng của con người lao động mới : chất vàng mười của đất nước trong xây dựng CNXH qua hình ảnh người lái đò sông Đà.Từ đó nhà văn ca ngợi sông Đà, núi rừng Tây Bắc vừa hùng vĩ vừa thơ mộng, đồng bào Tây Bắc cần cù, dũng cảm, rất tài tử, tài hoa.

  1. Phân tích nhân vật người lái đò.

Người lái đò hiện lên trước hết là một người lao động từng trải, có nhiều kinh nghiệm đò giang, có lòng dũng cảm, gan dạ, mưu trí, nhanh nhẹn và cả sự quyết đoán nữa. Nguyễn Tuân đưa nhân vật của mình vào ngay hoàn cảnh khốc liệt mà ở đó, tất cả những phẩm chất ấy được bộc lộ, nếu không phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. nhà văn gọi đây là cuộc chiến đấu gian lao của người lái đò trên chiến trường sông Đà, trên một quãng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà. Đó chính là cuộc vựơt thác đầy nguy hiểm chết người, diễn ra nhiều hồi, nhiều đợt như một trận đánh mà đối phương đã hiện ra diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một:

“Đá ở đây ngàn năm vẫn mai phục hết trong dòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đat nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này… Sông Đà đã giao việc cho mỗi hòn. Mới thấy rằng đây là nó bày thạch trận trên sông. Đám tảng hòn chia làm ba hàng chặn ngang trên sông đòi ăn chết cái thuyền , một cái thuyền đơn độc không còn biết lùi đi đâu để tránh một cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn…

Trong thạch trận ấy, người lái đò hai tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào mình. Khi sông Đà tung ra miếng đòn hiểm độc nhất là nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng đặng lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt, ông lão vẫn không hề nao núng, bình tĩnh, đầy mưu trí như một vị chỉ huy, lái con thuyền vượt qua ghềnh thác. Ngay cả khi bị thương, người lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch như cái luồng sóng đánh hồi lùng, đánh đòn tỉa, đánh đòn âm vào chỗ hiểm. “Phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất”, người lái đò “phá luôn vòng vây thứ hai”. Ông lái đò đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Đến vòng thứ bà, ít cửa hơn, bên phải bên trái đều là luồng chết cả, nhưng người lái đã chủ động “tấn công”: Cứ phóng thẳng thuyền, chọc thủng cửa giữa đó. Thuyền vút qua cổng đá cánh mở khép. Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được lượn được. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, người lái đò chỉ có một cán chèo, một con thuyền không có đường lùi còn dòng sông dường như mang sức mạnh siêu nhiên của loài thuỷ quái. Tuy nhiên, kết cục cuối cùng, người lái đò vẫn chiến thắng, khiến cho bọn đá tướng tiu nghỉu bộ mặt xanh lè vì phải chịu thua một con thuyền nhỏ bé.

Người lái đò trong tác phẩm là một người lao động vô danh, làm lụng âm thầm, giản dị, nhờ lao động mà chinh phục được dòng sông dữ, trở nên lớn lao, kì vĩ, trở thành đại diện của CON NGƯỜI. Người lao động nhờ ý chí kiên cường, bền bỉ, quyết tâm mà chiến thắng sức mạnh thần thánh của thiên nhiên. Đó chính là yếu tố làm nên chất vàng mười của nhân dân Tây Bắc.

Nổi bật nhất, độc đáo nhất ở người lái đò sông Đà là phong thái của một nghệ sĩ tài hoa. Khái niệm tài hoa, nghệ sĩ trong sáng tác của Nguyễn Tuân có nghĩa rộng, không cứ là những người làm thơ, viết văn mà cả những người làm nghề chẳng mấy liên quan tới nghệ thuật cũng được coi là nghệ sĩ, nếu việc làm của họ đạt đến trình độ tinh vi và siêu phàm. Trong người lái đò sông Đà, Nguyễn Tuân đã xây dựng một hình tượng người lái đò nghệ sĩ mà nhà văn trân trọng gọi là tay lái ra hoa. Nghệ thuật ở đây là nắm chắc các quy luật tất yếu của sông Đà và vì làm chủ được nó nên có tự do.

Quy luật ở trên con sông Đà là thứ quy luật khắc nghiệt. Một chút thiếu bình tĩnh, thiếu chính xác, hay lỡ tay, quá đà đều phải trả giá bằng mạng sống. Mà ngay ở những khúc sông không có thác lại dễ dại tay dại chân mà buồn ngủ. Chung quy lại, nơi nào cũng hiểm nguy. Ông lão lái đò vừa thuộc dòng sông, thuộc quy luật của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này, vừa nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá. Vì thế, vào trận mạc, ông thật khôn khéo, bình tĩnh như vị chỉ huy cầm quân tài ba. Mọi giác quan của ông lão đều hoạt động trong sự phối hợp nhịp nhàng, chính xác. Xong trận, lúc nào cũng ung dung, thanh thản như chưa từng vượt thác: sóng thác xèo xèo tan ra trong trí nhớ. Sông nước lại thanh bình. Đêm ấy nhà đò đốt lửa trong hang đá, nướng ống cơm lam và toàn bàn về cá anh vũ, cá dầm xanh, về những cái hầm cá hang ca mùa khô nổ những tiếng to như mìn bộc phá rồi túa ra đầy tràn ruộng. Cũng chả thấy ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi. Như những nghệ sĩ chân chính, sau khi vắt kiệt sức mình để thai nghén nên tác phẩm không mấy ai tự tán dương về công sức của mình. nhà văn Nguyễn Tuân đưa ra một lời nhận xét: Cuộc sống của họ là ngày nào cũng chiến đấu với sông Đà dữ dội, ngày nào cũng giành lấy sự sống từ tay những cái thác, nên nó cũng không có gì là hồi hộp, đáng nhớ… Họ nghĩ thế, lúc ngừng chèo. Phải chăng người lái đò anh hùng có lẽ dế thấy, nhưng nhìn người lái đò tài hoa, chỉ có Nguyễn Tuân.

III. Kết bài

Tuỳ bút “ Người lái đò sông Đà” là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật tài hoa uyên bác của nhà văn Nguyễn Tuân. Tác phẩm không chỉ ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ thơ mộng của thiên nhiên Tây bắc mà còn ca ngợi vẻ đẹp bình dị, anh hùng mà tài hoa của người dân lao động nơi đây. Qua đó, nhà văn Nguyễn Tuân bộc lộ tình yêu đất nước, niềm tự hào hứng khởi, gắn bó tha thiết với non sông Việt Nam.

Bài mẫu

Nguyễn Tuân sinh năm 1910, trong một gia đình nhà Nho, quê ở làng Nhân Mục (làng Mọc), huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông học Trung học ở Nam Định, tham gia bãi khóa chống thực dân Pháp rồi bỏ học. Nguyễn Tuân viết văn, làm báo sớm, nổi tiếng với loạt truyện ngắn đăng trên các báo Tao Đàn, Tiểu thuyết thứ bảy và được đánh giá là cây bút tiêu biểu cho văn xuôi lãng mạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 với tập truyện ngắn nổi tiếng Vang bóng một thời, các tập Tùy bút I (1941), Tóc chị Hoài (1943), Tùy bút II (1943). Sau Cách mạng tháng Tám, cùng với phẩn lớn văn nghệ sĩ, Nguyễn Tuân tham gia kháng chiến, theo sát bộ đội trong các chiến dịch lên Tây Bắc, vào Quảng Trị… Nhiều tập tùy bút đã ra đời, khẳng định sở trường của ông: Đường vui (1949), Tùy bút kháng chiến (1955). Trong giai đoạn xây dựng xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mĩ – ngụy, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Nguyễn Tuân sáng tác tùy bút Sông Đà (1960) và Hà Nội ta đánh Mĩ giỏi (1972).

Nguyễn Tuân có vốn văn hóa uyên bác, có tác phong làm việc rất nghiêm túc, viết gì cũng nghiên cứu, điều tra kĩ lưỡng. Khi viết, ông thường chú trọng lời văn sao cho thật vừa ý mình, thật mới, thật hay, có dấu ấn riêng rõ rệt, không thể lẫn với bất kì ai.

Người lái đò Sông Đà trích trong tập tùy bút Sông Đà, kết quả chuyến đi thực tế của Nguyễn Tuân ở Tây Bắc năm 1958. Ông sống với bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân cầu đường và đồng bào các dân tộc từ Lai Châu về Sơn La. Thực tiễn xây dựng cuộc sống mới sau 1954 và phong cảnh, con người Tây Bắc đã đi vào trang sách của ông với một niềm vui to lớn bao trùm tất cả, xen lẫn những xúc cảm trữ tình trước vẻ đẹp lạ lùng vồ hấp dẫn của đất nước, con người Tây Bắc.

Tùy bút Người lái đò Sông Đà lấy ông lái đò làm nhân vật trung tâm của câu chuyện về Sông Đà, nhưng thực chất là để biểu lộ cảm nghĩ, nghe nhìn, quan sát, nghiền ngẫm và sáng tạo của Nguyễn Tuân. Mượn lời ông lál đò nói về Sông Đà nhưng chính là tác giả miêu tả con sông từ nhiều góc độ khác nhau, qua đó bộc lộ tâm tư tình cảm mình đổi với con sông tiêu biểu cho núi non, con người xứ Tây Bắc xa xôi. Với lối viết đặc sắc, độc đáo, Sông Đà đã trở thành Sông Đà – Nguyễn Tuân. Đó là con sông của đất nước có lịch sử chống ngoại xâm, lịch sử cách mạng ; là con sông trữ tình, anh hùng cà, tạo nên những con người anh hùng, bình thường mà vĩ đại. Tất cả đều được vẽ nên bằng ngòi bút biến hóa tài tình thể hiện sự gắn bó thiết tha, sâu đậm với đất nước của tác giả.

Xưa nay, đã có nhiều tác phẩm viết về Sông Đà. Dân gian có truyện cổ tích về Thác Bờ, có thành ngữ về ma thiêng nước độc: Nước Sông Đà, ma Tà Bú. Vua Lê Thái Tổ đi đánh giặc Đèo Cát Hãn từ Lai Châu về qua Sông Đà đã có câu thơ : Đồn đại những ba trăm thác dữ, Mà nay chỉ thấy một dòng xuôi, ý lấy Sông Đà để nói chuyện dẹp giặc thành công. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Dữ, Nguyễn Quang Bích và các nhà văn trong cuộc kháng chiến chống Pháp đều đã nói đến Sông Đà.

Văn chương thế giới cũng có nhiều tác phẩm bất hủ tả vẻ đẹp của các dòng sông. Văn chương Trung Quốc đã sớm in vào trí nhớ nhiều thế hệ người Việt hình ảnh sông Lang Thương dòng trong dòng đục gắn với Khuất Nguyên. Dòng sông Hoàng Hà như từ trời cao rơi xuống trong thơ Lí Bạch. Bến sông Trường Giang và cảnh dương liễu rủ bóng làm cho khách qua sông sầu đến chết lòng. Bến Tầm Dương với lau lách đìu hiu và cái khí lạnh của sông Dịch trước sự hi sinh hào hùng của tráng sĩ Kinh Kha. Trong văn chương Pháp còn ngân vang giọng thác Niagara kéo dài qua thảo nguyên mênh mông trong đêm trăng thanh vắng với lời văn đầy chất thơ của Satôbriăng. Sống Hằng hùng vĩ, linh thiêng được miêu tả trong tác phẩm Mahabharata lại hiện ra hiền hòa, kì diệu ở thơ Tago. Sông Vônga, sông Đơnhiép êm đềm, mở mộng trong văn Mácxim Gorki, Sôlôkhốp… Mỗi dòng sông có một vẻ đẹp riêng nhưng không con sông nào đặc biệt như Sông Đà của Nguyễn Tuân.

Sông Đà có nguồn gốc rõ ràng : Nó khai sinh ở huyện Cảnh Đông, tỉnh Vân Nam bên Trung Quốc lấy tên là Li Tiên, đi qua một vùng núi ác, rồi đến nửa đường thì xin nhập quốc tịch Việt Nam, trưởng thành mãi lên và đến ngã ba Trung Hà thì chan hòa vào sông Hồng. Tác giả nói về dòng sông mà như nói về con người : nào khai sinh, hào xin nhập quốc tịch, nào trưởng thành… Ngôn ngữ học cho rằng đó là nhân hóa, kì thực nó là nghệ thuật hóa, coi dòng sông có đời sống, có tính cách, có cá tính vô cùng độc đáo.

Ngoài các yếu tố địa lí, Sông Đà còn có các yếu tố lịch sử. Thời xưa, triều đình nhà Trần lấy Sông Đà đặt tên cho một lộ là Đà Giang Lộ. Chính vì vậy trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ có truyện Đà Giang dạ ẩm mà bối cảnh là cuối đời Trần. Đà Giang Lộ là vùng đất tính từ Hưng Hóa trở lên, bây giờ gọi là vùng Tây Bắc. Từ Lai Châu xuôi về Hòa Bình, nối nhau bằng sợi dây thừng (chữ của Nguyễn Tuân) khổng lồ là Sông Đà, nếu nhìn từ trên máy bay xuống.

Sông Đà còn cố yếu tố cách mạng. Con sông trước tiên là một nguồn sống. Miếng nước, con cá, đường thủy, lưu vực phù sa, cơn gió mát mùa hè, nơi tụ họp đâu tiên để lập nghiệp thành tộc này tộc nọ là ở ven các bờ sông. Nhiều nền văn minh bắt nguồn từ những dòng sông. Con sông là trời sinh, nhưng con sông cũng do con người tạo nên bằng công sức mình. Lịch sử dù biến thiên, Sông Đà vẫn là của dân xứ Tây Bắc. Nó dữ, nó hiền là một chuyện và con người vẫn ăn ở đời đời kiếp kiếp với nó. Không nói chuyện ngày xưa, chỉ nhắc lại hồi Tây mới sang cướp nước ta, người dân xứ này đã cùng nhà yêu nước cần vương Nguyễn Quang Bích (tuần phủ Hưng Hóa) chiến đấu đến cùng. Trong nhật kí hành quân bằng thơ của ông đã ghi lại bao nhiêu tên đất, tên nước thuộc vùng Sông Đà. Tiếp theo đó là thời thực dân Pháp cai trị cùng với bọn lang đạo, địa chủ gian tham, độc ác: Con sông bị chúa đất từng vùng đem cắt ngang ra thành từng khúc nhỏ làm cho con sông ác thêm. Đế quốc đóng đồn bốt ven sống, tính dữ ác của con sống lại càng tăng thêm mấy lần.

Tuy vậy, người dân Tây Bắc không chịu rời Sông Đà. Dù chưa nghe nói đến cách mạng mà năm trăm thanh niên chèo đoàn thuyền hàng trăm chiếc xuôi về Hà Nội chở thóc lên Hòa Bình cho Tây đã không chịu được cảnh mưa trên nguồn giội xuống đầu, gió sống táp vào mặt cùng những lời chửi mắng, roi vọt của bọn quan lính áp tải, nên vào một buổi chiều Sông Đà nổi sóng, cá Sông Đà quẫy mạnh, họ nhất loạt rút cọc chèo, bơi chèo tiêu diệt gọn cái trung đội áp giải ấy. Người lái đò Quỳnh Nhai kể như vậy, rồi tiếp : Bây giờ thỉnh thoảng đi chở hàng mậu dịch cho chính phủ, vẫn gặp lại một số anh em cũ của cái đêm mưa bão đi trốn khỏi bến Tà Bú ấy… Mười lăm năm đã qua đi trên Sông Đà, con Sông Đà quê hương ngày nay đã khác trước rồi… Đoàn chuyên gia ta và chuyên gia bạn đi nghiên cứu Sông Đà, để rồi trị con sóng dữ tợn này, bắt nó phải phục vụ cuộc sống Tây Bắc. Từ đó tới nay đã trên hai mươi năm. Công trình thủy điện Hòa Bình đã xong. Con Sông Đà đã được chặn lại để làm ra điện. Hồ chứa nước dài hàng trăm kilômet là khu du lịch, nơi nuôi cá, là đường giao thông thuận lợi, không còn cảnh lên thác xuống ghềnh nguy hiểm mặc dù vẫn rất hào hùng như thuở trước.

Năm 1958, nhìn thấy đoàn chuyên gia nước bạn sang khảo sát Sông Đà, Nguyễn Tuân đã nổi hứng muốn làm một cán bộ thông tin để ghé khắp các bến lớn bến nhỏ ở bờ bên phải, ở bờ bên trái Sông Đà mà chuyển đi cái tin mới ngồn ngộn sức sống này. Niềm vui ấy không riêng cho một ai mà cho tất cả nhân dân Tây Bắc, nhân dân cả nước. Nó hết sức lớn lao vì nó mang rất nhiều ý nghĩa.

Người lái đò Sông Đà tuyên bố: Chợ Bờ, cái biên giới thủy phận cuối cùng của đá thác Sông Đà… Từ chợ Bờ xuôi dòng, hết ghềnh hết thác. Sông Đà hình như hết cả đậm đà với nhà đò. Như vậy, Sông Đà đúng với cái danh của nó là từ chợ Bờ trở lên. Phải đúng ba trăm cái thác đá mới là Sông Đà. Để làm chứng cho lời nói của mình và thêm chút mắm muối cho câu chuyện đậm đà chất sống, người lái đò già bình thêm : Chạy thuyền trên khúc sông không có thác, nó đến dại tay dại chân và buồn ngủ. Sông Đà đối với ông giống như một trường thiên anh hùng ca.

Tạo được môi trường anh hùng ca phải là cái gì dữ dội, nguy hiểm cao độ, khắc phục được phải là thiên tài, tối thiểu là tài ba hiếm có. Phải kiên trì, có khi liều xông vào chỗ chết để giành lấy sự sống và tất nhiên cuối cùng phải chiến thắng vẻ vang.

Sông Đà quả là một môi trường như thế. Bản chất nó đã vậy, tài ba của nhà văn càng làm cho bản chất ấy sắc nhọn thêm, dữ dội, nguy hiểm thêm bội phần. Cây cối, cỏ hoa hai bên bờ, ánh sáng nhà cửa, làng bản ven sông là nằm trong cảnh quan của sông, những cái đó thường hiền hòa, tươi đẹp… Nhưng trước hết, chúng ta hãy nói đến những nét đặc trưng nhất của Sông Đà.

Cát là thứ bình thường nhất. Cát trên sông có hại chăng là khi nó nổi lên thành bãi, thành gò làm cho thuyền bị mắc cạn. Có mấy ai nghĩ rằng thứ hạt nham nhám ấy của Sông Đà lại làm loét cả da, còn lội nước thì đục thủng gan bàn chân lỗ rỗ như những vệt hà đục thủng đáy và mạn dưới các thuyền gỗ. Như thế là cát dữ.

Bờ cũng chẳng hiền. Có nơi nó dựng vách thành, mặt sống chỗ ấy đúng ngọ mới thấy mặt giời. Có chỗ vách đá thành chẹt lòng Sông Đà như một cái yết hầu… Có quãng con nai, con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang bờ kia. Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy, đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy minh như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện…

Lời văn ở đoạn này gồm những chi tiết chính xác, khoa học xen lẫn cảm quan của tác giả, tạo nên cảnh Sông Đà khi thì dữ dội, nguy hiểm trong cái hùng vĩ không ngờ, khi thì pha chút hóm hỉnh trong những nét rất hiện thực như con nai con hổ vọt từ bờ này sang bờ kia, tưởng như lòng sống chỉ còn là cái dải yếm trong ca dao xưa.

Gió Sông Đà cũng đáng sợ. Ở quãng ghềnh Hát Loóng là vương quốc của gió phối hợp với nước, với đá, với sóng thành những chỗ xoáy: nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt, (nợ xuýt là nợ không có cũng đòi), mà không đòi được thì cố bắt người lái đò và lật ngửa bụng thuyền ra.

Cát, vách đá, gió đều đáng sợ cả, nhưng không gì đáng sợ bằng cái hút nước. Chắc tên gọi này không phải do tác giả đặt ra mà là của đồng bào sở tại, hoặc của những người lái đò trên Sông Đà. Nó là chỗ nước xoáy, dòng nước đường chảy xuôi êm ả, bỗng dưng tới đó cứ xoáy tròn thành vòng rất đẹp rồi trũng xuống như cái lúm đồng tiền trên đôi má xinh xinh. Ai ngờ đó là chỗ nguy hiểm nhất cho thuyền đi trên sông. Ban trưa thanh vắng ra sông, chỗ bờ hõm thành vực, thấy những vòng xoáy ấy, trẻ con người lớn đều sợ hãi bởi đã từng nghe lời đồn đại mê tín rợn tóc gáy là chỗ đó Hà Bá và các vị thủy thần thường bắt người xuống hầu hạ hoặc lấy gỗ xây cung điện dưới Thủy cung. Bất cứ vật gì lọt vào đó là chìm mất tăm. Cái hút nước ở Sông Đà được Nguyễn Tuân miêu tả hiện đại hơn : nó như cái giếng bê tông thả xuống sông để chuẩn bị làm móng cầu. Nước ở đó ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào. Tiếng nước ặc ặc ấy có lẽ chỉ Sông Đà mới có. Còn những bè gỗ rừng đi ngênh ngang vô ý là bị những cái giếng hút ấy nó lôi tuột xuống. Vừa đáng sợ vừa buồn cười là chi tiết thuyền mà lạc vào đó thì thuyền giồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mười phút sau mới thấy tan xác ở khuỳnh sông dưới.

Cái đáng sợ nhất của Sông Đà chưa phải là những cái hút nước mà là đá và thác. Thác và đá bày thành Thạch Trận, hay nói đúng hơn là Thạch Thủy Trận. Nguyễn Tuân có dụng ý trình bày một thứ trận chiến như kiểu Bát trận đồ theo binh pháp Tôn Ngô mà Khổng Minh sáng tạo lại, cố nhiên có pha chút hiện đại. Không có Long Xà Trận nhưng có Thạch Trận. Thạch Trận cũng đủ cửa tử, cửa sinh. Tuy không đủ Bát Trận nhưng cũng có trận trước trận sau, trận trên, trận dưới, nhiều lớp nhiều tuyến, có tiên phong, có dự bị… Không có các tướng trấn cửa như Ngụy Diên, Mã Siêu, Quang Hưng, Trương Bào… nhưng có những tướng đá và quân nước. Đá thì ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông… có chiếc thuyền nào xuất hiện… là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy… Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm, méo mó… Tưởng chừng như chúng nằm ngồi rải rác tùy tiện, nhưng hình như sông đã giao việc cho mỗi hòn, sông bày Thạch Trận.

Đá được “phân công” hẳn hoi, chia làm ba hàng chặn ngang trên sông. Hai hòn đá canh một cửa đá giữ vai trò dụ cái thuyền đối phương vào tận tuyến giữa rồi nước sóng luồng mới đánh khuýp quật vu hồi lại. Nếu thuyền không chịu chìm mà cứ tiến lên thì một thế trận khác lại đã bày sẵn. Tướng đá ở đây oai phong lẫm liệt. Một tướng đá như đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến. Một tướng đá khác lùi tại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi thì tiến gần vào. Nhưng các tuyến của Thạch Trận đều lần lượt bị chọc thủng. Các cửa tử đều chẳng nhử được thuyền. Cuối cùng, cái thằng đá tướng đứng chắn ở cửa vào đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng. Tưởng đâu như sắp bị khép vào trọng tội trong binh pháp: quân thua chém tướng. Đây là một chi tiết cực kì thú vị.

Hết đá đến nước. Nước vốn êm dịu nhưng khi kết hợp với đá, với gió thì nó trở nên hung dữ. Nước Sông Đà là như vậy. Tính từ Chợ Bờ trở ngược, chỉ lắng nghe tiếng kêu đủ kiểu của nước cũng đã thấy ghê : Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên… Lúc nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi, nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa. Tới giữa thác thì một đằng đá chặn, một đằng sóng luồng thuyền mà đánh vu hồi, đồng thời reo hò làm thanh viện. Có lúc nó reo như đun sối lên một trăm độ muốn hất cái thuyền đang phải đóng vai một cái nắp ấm, một ấm nước sôi khổng lồ. Nhưng không đâu tiếng nước nghe lạ như ở những cái hút: nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào. Tiếng nước đã sợ, sức nước còn đáng sợ hơn. Mặt sông cũng có ổ gà : Đi vào ổ gà sông là thuyền bị giật xuống, bị dồi lên. Chỗ thác, mặt sông chia thành nhiều luồng: Có luồng đi lầm vào thì chết ngay, có luồng đi vào đúng luồng rồi nhưng mà không trúng tim luồng thì vẫn có thể là thập tử nhất sinh như thường, ở những chỗ khác, nước có thể đội thuyền lên, bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng lái đò đòi lật ngửa ông lái cho phơi bụng giữa trận nước vang trời thanh la não bạt. Dưới ngòi bút tài hoa, phóng khoáng của Nguyễn Tuân, nước Sông Đà đã trở thành võ sĩ thực thụ. Nó đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất: bóp chặt hạ bộ người lái đò… Bây giờ thì nó là con ngựa bất kham đang tế mạnh trên sông đá. Ông lái nắm chặt lấy được cái bờm sóng… ghì cương lái… phóng nhanh vào cửa sinh. Nước đành chịu thua nhưng đến chỗ cái hút, nó rình sẵn, thuyền nào lơ mơ là nó rút luôn tận đáy, chết không kịp ngáp. Chẳng khác gì dân gian đồn Hà Bá lên lấy gỗ.

 Sông Đà dữ quả không sai với tiếng đồn. Cát dữ, bờ dữ, gió dữ, hút nước dữ, tập trung cái dữ là những Thạch Trận, đá và nước hùa nhau bẫy người lái đò vào chỗ chết. Tác giả đã dùng ngòi bút trăm màu và cặp mắt thiên lí nhãn của mình để đưa ra hàng loạt những hình ảnh khác nhau nhưng luôn luôn đắc địa, vừa có tính trí tuệ vừa có chất tạo hình, vượt xa thủ pháp mà ta quen gọi là nhân hóa để đi vào bản chất sâu xa nhất, độc đáo nhất của sự vật, trở thành những trang viết biến hóa khôn lường. Đá dưới sông mà được tác giả miêu tả như là dân quân phục kích, là bộ đội giăng hàng bày trận, là tướng giữ cửa tử cửa sinh trong trận đồ Khổng Minh, là tướng trên sân khấu tuồng, là tướng thua trận trên chiến trường.,. Nước mà khi thì là tiếng kêu tâm trạng, khi thì là tiếng reo hò của quần chúng, khi thì là đô vật, khi là lực sĩ đội thuyền, khi thì là Hà Bá hút người xuống đáy… Do đó mà cái dữ của Sông Đà lại càng dữ, càng trở nên môi trường anh hùng ca hoàn toàn độc đáo.

 Cảnh Sông Đà vừa dữ dội vừa hùng vĩ. Cái hút nước rất nguy hiểm và đáng sợ, vậy mà nhà văn tưởng tượng là cứ chui xuống đáy nước rồi tia máy quay phim ngược lên cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày… thì nó lại trở thành cảnh đẹp và lạ có một không hai. Từ trên máy bay nhìn xuống, Sông Đà giống như cái dây thừng ngoằn ngoèo chứ không ai nghĩ rằng nó đã bao đời làm mình làm mẩy với người dân Tây Bắc. Có lúc lại thấy Sông Đà như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân. Màu nước Sông Đà rất đẹp : Mùa xuân dòng xanh ngọc bích, chứ không xanh màu xanh canh hến của Sống Gâm, Sống Lô. Mùa thu nước Sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa…

 Nguyễn Tuân viết về Sông Đà bằng ngòi bút dạt dào cảm xúc. Tác giả nhận xét: Con Sông Đà gợi cảm. Có lần ông nhìn nó như một cố nhân lâu ngày mới gặp lại. Sông Đà xuất hiện đột ngột sau một chỗ ngoặt khỏi núi thành một vệt loang loáng màu nắng tháng ba Đường thi “Yên hoa tam nguyệt há Dương Châu” (thơ Lí Bạch trong bài Tại lầu Hoàng Hạc, tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng), ôi, cái nắng giòn tan trên sông lấp loáng vừa khói vừa nước mới đẹp đẽ, ấm áp làm sao ! Bạn thơ của Lí Bạch ra đi vào giữa mùa hoa khói ấy có thấy rộn lên trong lòng chất men xuân hay không thì chưa rõ; nhưng ở đoạn văn này thì Nguyễn Tuân như đang đắm mình vào đám hội xuân của chuồn chuồn, bươm bướm, của nắng giòn tan trên sông, của cá dầm xanh vọt lên mặt nước như bạc rơi thoi, của đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm, của cả những nương ngô mới nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa, của Sông Đà thơ mộng trước con mắt của thi sĩ Tản Đà : Dải Sông Đà bọt nước lênh đênh, Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình…Sông nước, bến bờ tịnh không một bóng người : Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bỗng dưng, tác giả thèm nghe một tiếng còi síplê (tiếng Pháp: sifflet là còi) của một chuyến xe lửa Yên Bái – Lai Châu để cho nỗi niềm cổ tích tuổi xưa trở màu thành hiện đại, cho cảm nghĩ đủ hai chiều kim cổ. Cuối đoạn văn trữ tình này lại là một khoảng không gian khoáng đạt của dòng nước hiền hòa đang nhớ các bạn thác ghềnh ; của giọng người miền xuôi thoáng nhẹ, êm êm ; của những cánh buồm mở rộng tha hồ đón gió bốn phương trên những con thuyền mình nở chứ không phải là thuyền then đuôi én, khiến cho cảm xúc của cả người viết lẫn người đọc cứ tràn ra mênh mang, bất tận. Sông Đà dữ dội nhưng Sông Đà cũng rất trữ tình. 

Trở lại với nhân vật chính là người lái đò Sông Đà. Ông sinh ra và lớn lên bên bờ Sông Đà, uống nước Sông Đà từ thuở còn để chỏm, chắc chắn ông cũng đã từng hằng trăm lần ngụp lặn trong dòng sông. Sau mười năm lên ngược xuống xuôi, cầm lái bao phen đi về từ Lai Châu xuống tận Hà Nội, thử hỏi có bến nào, thác nào, luồng nào mà ông không thuộc ?! Mà con Sông Đà này sức cải hóa cửa nó là ghê gớm, quyết liệt có một không hai. Cái phép của sông là sắt đá số một, cho nên ở ông lái đò này có cái gì mà không in đậm dấu ấn của con sông, không là sản phẩm của Sông Đà? 

Từ hình dáng bên ngoài : Tay ông lêu nghêu như cái sào, chân ông lúc nào cũng khuỳnh khuỳnh gò lại như kẹp lấy một cái cuống lái tưởng tượng, giọng ông ào ào như tiếng nước trước mặt ghềnh sông, nhỡn giới ông vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến xa nào đó trong sương mù. Cuộc sống sông nước đã rèn luyện cho ông một thân hình to và gọn quánh như chất sừng chất mun. Cái nghề lái đò đã khiến tất thảy những người lái đò Sông Đà chỉ khỏe có đôi tay còn chân rất yếu, chạy rất kém. Cử chỉ của ông lái đò này cũng đều theo dáng lái thuyền, khi ngắt lời người khác, ông nhanh như một tay lái rẽ ngang sống miết theo luồng thác bắt chéo. 

Cái dữ dội của Sông Đà có các ông lái đò trị được. Chiến thắng ấy là một nét đẹp : con người chiến thắng thiên nhiên. Ngay trong khi miêu tả cái dữ dội, tác giả vẫn thỉnh thoảng pha một chút vui vui, nghịch nghịch để làm cho cái cứng rắn, hiểm trở của thiên nhiên mềm đi ít nhiều. 

Làm nghề lái đò, ông lái hiểu rõ cấu tạo của thuyền, đò. Tại sao con thuyền Tây Bắc mình thon chứ không nở ? Phải là thuyền then đuôi én thì mới lách qua được các cửa luồng đá ép lại còn rất hẹp. Cả chuyện cái buồm cũng vậy. Lái đò Sông Đà ở thượng nguồn thì cần sào chống, chèo bơi, cần nữa thì thêm dây kéo, ít khi dùng buồm, về dưới xuôi, nếu cần buồm thì can hai cây sào lại thành cột buồm và căng cái mui ra làm buồm mà treo lên. Có điều chân trời Tây Bắc và Sông Đà thường là vướng núi, cái buồm di động trên lườn núi vốn không phải là hình ảnh quen mắt của người dân hai bờ sông Tây Bắc. Ông lái đò thuộc Sông Đà như thuộc lòng bàn tay. Sông Đà đối với ông chỉ có ý vị đậm đà từ Chợ Bờ trở ngược, về xuôi, hết thác, hết đá, lái thuyền dễ dại tay dại chân và buồn ngủ. Sông Đà chỗ nào vách đá dựng đứng như thành cao vút, khép sông lại chỉ còn như cái eo; chỗ nào gió, sóng, đá kết hợp với nhau thành khúc nhạc rợn người; chỗ nào có những hút nước là cạm bẫy kinh khủng cho thuyền bè. Đặc biệt là luồng lạch, thác đá, bao nhiêu thác, ở đâu thác liên tiếp giăng hàng, bày trận, luồng nào sinh luồng nào tử, tìm luồng ở đâu, lên thác ra sao, xuống thác thế nào… ông lái đò biết hết. Không phải tự nhiên mà ông hiểu biết và thành thạo như vậy. Phải rèn luyện, rèn luyện cao độ bằng cách lấy mắt mà nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng. Cái nghề lái đò này thật vất vả, người cứ dựng đứng lên mà luôn tay luôn chân luôn mắt luôn gân và luôn tim nữa. Lên ngược phải kéo thuyền thì ngực vú, bà vai người lái đò chống sào hay bầm lên một khoanh củ nâu, nó là vết nghề nghiệp của đầu con sào gửi lại đời đời cho người lái đò Sông Đà như một thứ huân chương lao động Sông Đà ban tặng cho họ. Lên thác vất vả nhưng còn tránh được nguy hiểm chứ chẳng như xuống thác: Xuống thác, người lái đò Sông Đà linh hoạt và luôn luôn cơ động mà phối hợp đôi mắt, đôi tay, đôi chân, thần chết chỉ đến với những tay lái, kém cả tính phối hợp và tính ứng phó linh hoạt đó.

Đời người lái đò Sông Đà là một cuộc đời chiến đấu thực thụ. Cứ nghe ông lái đò thuật một chuyến xuống thác thì đủ biết. Lúc đó, Sông Đà là kẻ thù số một. Nhìn nó, có lúc thấy nó không “thơ đời Đường” nhàn hạ mà thấy nó chính là một cuộc đấu tranh… để giành sự sống từ tay nó về tay mình. Người lái đò khi nào thì đè lên đầu luồng mà tiến, khi nào thì tóm lấy bờm sóng mà vượt, vững tay lái ra sao khi chung quanh tiếng sóng nước reo hò vang lừng để thanh viện… Hỗn chiến với đá với nước đến cật lực, hết hơi, tưởng như rã rời vậy mà qua xong thác, khi sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ… Cũng chả ai bàn thêm một lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đã tưởng dơ quân tợn vừa rồi. Hết thác, sông nước lại thanh bình thì lòng ông lái đò cũng bình yên. Chiến đấu gay go vô kể nhưng vẫn là chuyện thường ngày, không có gì đáng hồi hộp đáng nhớ. Sông Đà đối với ông lái đò, quả là một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những dấu chấm câu và những đoạn xuống dòng. Bản thân ông cũng sống một đời sống hào hùng, có điều sự hào hùng ấy là chuyện hằng ngày nên ông coi chẳng có gì đặc biệt, ông đã ép con người ông vào trong khuôn khổ của Sông Đà và Sông Đà đã rèn ông theo mẫu của mình. Không có cái gì thuộc về Sông Đà mà ông lái đò không biết. Ngược lại, không có cái gì ở ông lái đò mà không mang hình ảnh Sông Đà.

Đọc văn Nguyễn Tuân nhất là tùy bút, có người cho rằng như soi trong kính thiên sắc, chỉ mấy màu mà lắc bên này thì một thế giới màu, lắc bên kia lại là một thế giới màu khác. Ngòi bút Nguyễn Tuân không chỉ bảy màu mà trăm màu. Nếu người đọc chịu khó chú ý đến từng câu từng chữ thì sẽ nhận thấy giá trị công sức mà tác giả đã bỏ ra e thường là “đến bạc tóc” như người xưa từng nói.

Từ ngữ của Nguyễn Tuân phong phú, tìm tòi, sáng tạo, câu cú đôi khi rắc rối nhưng vẫn rất Việt Nam. Hình ảnh ví von luôn bất ngờ, độc đáo mà vẫn chính xác. Các chi tiết của tùy bút Người lái đò Sông Đà đã hay, chỉnh thể của bài văn càng cho thấy sự hiểu biết khoa học đến cặn kẽ, cảm xúc riêng giàu chất sống và bao trùm lên tất cả là một tấm lòng yêu thương con người, đất nước, yêu cái gian khổ đã vượt qua như một bản hùng ca, nên càng quý khao khát, ước mong một tương lai tươi sáng, hạnh phúc.