Bạch cầu là gì? Vai trò, đặc tính và chức năng của bạch cầu là gì?

Bạch cầu là gì? Chức năng của bạch cầu là gì? Công thức bạch cầu như nào? Bạch cầu vốn là một thành phần quan trọng trong máu và giữ vai trò thiết yếu đối với cơ thể. Với yếu tố quan trọng như vậy, việc thừa hay thiếu hụt bạch cầu đều tiềm ẩn những căn bệnh nguy hiểm. Trong bài viết dưới đây, hãy cùng Wikihoidap.org tìm hiểu về chủ đề bạch cầu là gì và chức năng của bạch cầu.

Bạch cầu là gì?

Bạch cầu, hay bạch huyết cầu (nghĩa là "tế bào máu trắng", còn được gọi là tế bào miễn dịch), là một thành phần của máu. Chúng giúp cho cơ thể chống lại các bệnh truyền nhiễm và các vật thể lạ trong máu. Chúng là một phần của hệ miễn dịch, số lượng bạch cầu các loại trong một lít máu người lớn khỏe mạnh dao động từ 4x109 tới 11x109.

Bạch cầu trong suốt, kích thước khá lớn, có nhân. Ngoại trừ máu, chúng được tìm thấy với số lượng lớn trong các hạch, mạch bạch huyết, lách và các mô khác trong cơ thể.

Trong tổng số bạch cầu cơ thể các loài động vật có vú thì bạch cầu hạt trung tính là loại chiếm số lượng nhiều nhất (40% đến 70%).

Phân loại bạch cầu và chức năng

Bạch cầu gồm có 3 loại chính: bạch cầu hạt, tế bào lympho và bạch cầu đơn nhân.  

Bạch cầu hạt

     Bạch cầu hạt là các tế bào bạch cầu có các hạt nhỏ chứa protein. Có ba loại tế bào bạch cầu hạt:

  • Bạch cầu ái kiềm: Chúng chiếm ít hơn 1% tế bào bạch cầu trong cơ thể và thường xuất hiện với số lượng tăng sau một phản ứng dị ứng.
  • Bạch cầu ái toan: Đây là bạch cầu chịu trách nhiệm đáp ứng với nhiễm trùng mà ký sinh trùng gây ra. Chúng cũng đóng một vai trò trong phản ứng miễn dịch nói chung, cũng như phản ứng viêm trong cơ thể.
  • Bạch cầu trung tính: Chúng đại diện cho phần lớn các tế bào bạch cầu trong cơ thể. Chúng hoạt động như những “lao công thu gom rác”, giúp bao quanh và tiêu diệt vi khuẩn và nấm có thể có trong cơ thể.

Tế bào lympho

     Những tế bào bạch cầu này bao gồm:

  • Tế bào B: Còn được gọi là tế bào lympho B, các tế bào này tạo ra các kháng thể để giúp hệ thống miễn dịch gắn kết với phản ứng với nhiễm trùng.
  • Tế bào T: Còn được gọi là tế bào lympho T, những tế bào bạch cầu này giúp nhận biết và loại bỏ các tế bào gây nhiễm trùng.
  • Các tế bào giết tự nhiên: Những tế bào này chịu trách nhiệm tấn công và tiêu diệt các tế bào virus, cũng như các tế bào ung thư.

Bạch cầu đơn nhân

Bạch cầu đơn nhân chiếm khoảng 2 - 8% tổng số tế bào bạch cầu trong cơ thể. Chúng có mặt khi cơ thể chống lại nhiễm trùng mãn tính. Các bạch cầu đơn nhân nhắm mục tiêu và phá hủy các tế bào gây nhiễm trùng.

Công dụng của bạch cầu

Trong nhiệm vụ chung là bảo vệ cơ thể, mỗi loại bạch cầu có một cấu trúc gắn liền với tính năng và nhiệm vụ khác nhau:

  • Bạch cầu hạt trung tính: Tạo ra hàng rào đầu tiên bảo vệ cơ thể chống lại sự xâm nhập của các vi khuẩn sinh mủ do bạch cầu trung tính có khả năng vận động và thực bào rất mạnh.
  • Bạch cầu hạt ưa acid: Chức năng chủ yếu là khử độc các protein và các chất lạ do trong các lysosome chứa các enzyme như oxidase, peroxidase và phosphatase.
  • Bạch cầu hạt ưa base: là loại ít gặp nhất trong các loại bạch cầu, đóng vai trò quan trọng trong một số phản ứng dị ứng.
  • Bạch cầu lympho: Có hai loại là bạch cầu lympho T và bạch cầu lympho B.

Bạch cầu lympho T : bạch cầu Lympho T sau khi được hoạt hóa sẽ tấn công các kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể bằng cách tấn công trực tiếp hoặc giải phóng một chất gọi là lymphokin. Lymphokin sẽ thu hút bạch cầu hạt đến xâm nhập, tấn công kháng nguyên.

Bạch cầu lympho B có vai trò sản xuất ra kháng thể.

  • Bạch cầu mono: có kích thước lớn, tại mô liên kết của các cơ quan sẽ phát triển thành các đại thực bào. Các đại thực bào này sẽ ăn các phân tử các phân tử có kích thước lớn, các mô hoại tử, do đó có tác dụng dọn sạch các vùng mô tổn thương. Bên cạnh đó, bạch cầu mono còn đóng vai trò quan trọng trong khởi động quá trình sản xuất kháng thể.

Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu

Theo nhiều nghiên cứu khoa học đã chỉ ra, số lượng bạch cầu trong máu ngoại vi thay đổi trong khoảng 4,0 – 11,0 G/l (Giga/lít).

- Nam    8,0 ± 2 G/l (x109 tế bào/lít).

- Nữ    8,1 ± 2 G/l (x109 tế bào/lít).

Công thức bạch cầu của người trưởng thành:

- BC hạt trung tính: 57,4 ± 8,4%

- BC hạt ưa acid:      3,2 ± 2,6%

- BC hạt ưa base:      rất hiếm gặp

- BC mono     :        3,8 ± 0,5%

- BC lympho :        35 ± 7,2 %

Nhìn chung, không có sự khác biệt giữa công thức bạch cầu của nam và của nữ.

Ý nghĩa của chỉ số WBC là gì?

Chỉ số WBC (White Blood Cell) là chỉ số thể hiện số lượng bạch cầu trong một thể tích máu. Giá trị này bình thường trong khoảng 4.000- 10.000 tế bào/mm3. Nếu số lượng bạch cầu cao hơn khoảng trên gọi là tình trạng tăng bạch cầu, thấp hơn khoảng trên là tình trạng giảm bạch cầu. Đây là một chỉ số quan trọng, dựa vào chỉ số này tăng hoặc giảm thầy thuốc có thể tiên lượng được tình trạng sức khỏe của người bệnh.

Số lượng bạch cầu tăng do các bệnh nhiễm khuẩn do vi khuẩn, ký sinh trùng, các trường hợp nhiễm khuẩn các cơ quan trong cơ thể như viêm phổi, áp xe gan. Trong một số trường hợp có thể bạn đã bị mắc các bệnh ung thư của hệ tạo máu như bệnh bạch cầu cấp tính hay mạn tính. Bệnh bạch cầu tăng cao là do hiện tượng số lượng bạch cầu tăng cao quá mức so với bình thường. Khi này người bệnh sẽ có các dấu hiệu từ nhẹ đến nặng như luôn cảm thấy cơ thể mệt mỏi, giảm cân không rõ nguyên nhân, khó chịu, căng thẳng. Người có chỉ số bạch cầu cao thường bị sốt vặt, đi kèm với sự nhiễm trùng trên cơ thể. Bên cạnh đó, người bệnh còn có hiện tượng thở yếu, yếu cơ, khó lành vết thương, xuất hiện bầm tím mặc dù không va đập và chảy máu cam không rõ nguyên nhân.

 

Đối với bạch cầu giảm là tình trạng số lượng bạch cầu trung bình rất thấp. Ngoài ra bệnh bạch cầu trung tính cũng là một dạng bệnh phổ biến, tế bào trắng được tạo ra từ tủy xương, di chuyển đến máu, các khu vực bị nhiễm trùng. Loại này tiết ra những chất tiêu diệt vi sinh vật xâm nhập vào cơ thể. Người có số lượng bạch cầu dưới 1500 thì được gọi là giảm bạch cầu. Các trường hợp người bệnh lao, bệnh nhiễm trùng, bệnh sốt xuất huyết, hay nhiễm một số loại virus như Epstein-Barr, cytomegalovirus, viêm gan và virus HIV thường có lượng bạch cầu giảm.